On Monday, February
24, 2020, 09:30:47 PM PST, thanh pham wrote:
Hoàng Thảo Vy Merdes La Chine! Fuck China
invaded Vietnam & Tibet!
Ri Nguyen: Đảng Cướp Ba Tàu CSVN Hà Nội – Một Tổ Chức Buôn Bán Con Người Khủng Khiếp!
Ri Nguyen: Mafia Chinese Communist Party
CSVN - Human Traffic is the huge organization SS police
Chinese-Vietnamese of Dictator Chinese Regime Nguyen Phu Trong sold the young
girls to the World.
Hoàng Thảo Vy CS
Hà Nội hay Đảng Cướp Ba Tàu CSVN -
Một Tổ Chức Buôn Bán Con Người Khủng Khiếp!
Mafia Chinese Communist Party CSVN -
Human Traffic is the huge organization SS Nazi police Chinese-Vietnamese of Dictator
Chinese Regime Nguyen Phu Trong sold the young girls to the World.
CS Hà Nội –
Một Tổ Chức Buôn Bán Con Người Khủng Khiếp!
Cộng Sản
Hà Nội được coi là một chính thể lừng danh vì vi phạm nhân quyền nặng nề nhất tại
Đông Nam Á – theo tường trình của UB Đối Ngoại Hạ Viện Hoa Kỳ. Các
công ty gọi là tuyển nhân công của chính phủ do Cộng đảng kiểm soát chuyên buôn
bán cung cấp con người từ nam, nữ, trẻ em cho mọi thị trường từ tình dục cho đến
lao động khổ sai- đem về một nguồn lợi quá lớn cho đảng.
Thống kê dữ liệu về việc xúc tiến buôn bán con người của Cộng Sản
Hà Nội lên đến mức báo động và rõ như ban ngày nhưng đừng hòng tìm thấy từ nguồn
tin xác thực từ chính phủ Hà Nội. Bộ Lao Động & Thuơng Binh Xã Hội của
Cộng Sản Hà Nội miễn cưỡng đưa ra con số nhỏ bé 2935 nạn nhân từ năm 2004 đến
năm 2009- trong khi các tổ chức quốc tế đã có bản tường trình với con số hơn
400 ngàn người Việt Nam bị bán đi tính từ năm 1990 cho đến nay; và đó chỉ là
con số của những trường hợp buôn bán con người đã bị bại lộ, còn con số những nạn
nhân người Việt Nam bị (đảng) bán đi chưa bị bại lộ có thể lên đến thêm cả chục
ngàn nạn nhân nữa.
Hình thức buôn bán còn người thông qua chiêu bài “xuất khẩu lao động
” không còn lạ gì đối với xã hội Việt Nam. Sau khi Cộng Sản thôn tính Việt Nam
Cộng Hòa năm 1975- hàng trăm ngàn lao công đã được “xuất khẩu” sang Liên Xô và
khối Đông Âu để trả nợ chiến tranh. Không biết bao nhiêu lao công Việt Nam tại
Đông Âu lâm vào cảnh túng quẩn, thất nghiệp và mất khả năng tài chánh để hồi
huơng. Cộng Sản Hà Nội cũng nhanh chóng trở thành một tổ chức buôn bán trẻ em,
phụ nữ cho thị trường nô lệ tình dục kể từ đó.
Cộng Sản Hà Nội bị cảnh cáo về thành động khuyến khích buôn bán
con người cho thị trường tình dục:
Cộng Sản Hà Nội trở thành tổ chức cung cấp nô lệ tình dục và lao động
khổ sai chủ yếu trên thế giới- thậm chí có nhiều trường hợp nạn nhân từ lao động
khổ sai bị ép trở thành nô lệ thình dục.
Xảo trá và lường gạt trong hôn nhân là một cách để Cộng Sản Hà Nội
buôn bán phụ nữ cho thị trường tình dục. Mồi để nhử các nạn nhân là năm ngàn
dollar Mỹ, một số tiền quá lớn khiến các gia đình thôn quê dưới chế độ XHCN hầu
hết là nghèo rất khó mà từ chối. Phụ nữ và các bé gái dưới vị thành niên từ đó
được bán qua thị trường tình dục ở Campuchia, China, Lào, Thái Lan, Malaysia,
Đài Loan, Ma cau, Trung Đông, và ngay cả Âu châu. Tương tự, trẻ em ở Campuchia
cũng được bán vào Việt Nam để giúp Việt Nam nhanh chóng trở thành một nơi thiên
đường du lịch cho huởng lạc tình dục trẻ em đối với du khách khắp nơi từ Nhật,
Nam Hàn, Trung Cộng, Dằi Loan,Anh, Úc, Âu châu , và ngay cả du khách từ Hoa Kỳ.
Tàn nhẫn và phi truyền thống luân lý hơn hết, phụ nữ Việt Nam còn được “xuất”
hay bán sang các nước chỉ để làm “thợ đẻ” không thôi- tức là đẻ con cho những
gia đình không thể sinh con hoặc đẻ con để cung cấp cho “thị trường con nuôi”
mà khách hàng là những gia đình ở các quốc gia giàu có.
Một trường hợp điển hình tại nước Nga:
Cô Danh đã tường trình trước Quốc Hội Hoa Kỳ về đường dây từ Việt
Nam có Cộng đảng bảo kê buôn bán phụ nữ sang Nga thông qua dụ dỗ lừa gạt là sẽ
có lương hậu, thu nhập cao cho những nạn nhân này khi họ sang Nga làm tiếp đãi
viên. Thực tế, họ bị bán vào các nhà thổ tại Moscow. Đường dây buôn bán phụ nữ
này được tổ chức bởi các công ty quốc doanh tuyển người, đem đến không biết bao
nhiêu là tiền cho các đảng viên. Còn các nạn nhân khi đến Nga bị giữ passport,
chẳng được trả đồng lương nào cả và không có sự chăm sóc sức khỏe hay những hổ
trợ để quay về lại quê nhà. Nhiều phụ nữ Việt Nam đã bị cầm cố tại những nhà thổ
ở Nga hơn bốn năm trời và luôn bị đánh đập tàn nhẫn nếu muốn rời khỏi hay cố
tình bỏ trốn. Và dù là bị cầm cố như vậy, họ vẫn phải trả tiền nhà, tiền ăn tiền
quần áo(?!)
Người em gái của cô Danh là cô Huỳnh Thị Bé Hương là một trong những
nạn nhân chịu cảnh thảm thiết này từ chính sách buôn bán con người của đảng.
Khoảng sau vài tháng bị giam cố nghiệt ngã, Huơng phải nhờ gia đình nghèo khó của
cô gởi tiền để lo sức khỏe – gia đình cô lật đật gởi 300 dollar Mỹ để giúp cô.
Sau đó, cô lại gọi về nhờ giúp 2000 dollar Mỹ để bay trở về sau khi công ty quốc
doanh tuyển người (để bán) tại Việt Nam đồng ý hủy hợp đồng. Cô Danh đang ở Mỹ
mượn tiền để gởi đến cơ quan này, rồi số tiền đòi hỏi cứ tăng kên, từ 2000
dolllar lên 4000 dollar, rồi 6000 dollar- rõ ràng, đây là cách giữ người siết
tiền của đường dây buôn người hợp pháp này.
Vào tháng Hai năm 2013, sau 13 tháng làm nô lệ tình dục, cô Hương
trốn khỏi nhà Thổ cùng với ba nạn nhân Việt khác. Cô Hương ráng liên lạc với
tùy viên sứ quán Nguyễn Đông Triều tại tòa đại sứ Cộng Sản Hà Nội ở Moscow xin
cầu cứu giúp- Triều nhẫn tâm làm ngơ và nói với cô Huơng rằng:”Cơ quan nào đem
cô đến đây thì bảo cơ quan đó đem cô về!” Hai ngày sau, cô Huơng cùng ba người
trốn đi bị bọn băng đảng bắt về lại nhà thổ và bị đánh đập tàn nhẫn. Sau đó, cô
Huơng mới khám phá ra má mì của nhà thổ này là bạn mần ăn, ăn thông với các tùy
viên sứ quán của Cộng Sản Hà Nội tại Moscow- nên cô Huơng cùng ba người trốn đi
đã bị bán rẽ bởi bọn cán bộ đảng viên làm ở sứ quán.
Khi cô Danh biết được tình trạng thảm khốc của người em gái minh,
cô đã liên lạc được với hai tổ chức phi chính phủ tại Mỹ thay vì liên lạc với
nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội cố tâm bán rẽ con người, đó là hội “Boat people
SOS” và liên hội “Coalition to Abolish Modern-Day Slavery in Asia” chuyên hổ trợ
cho các hoạt động chống buôn người- nhờ vậy, cô Danh có cơ hội thông báo chi tiết
nội tình cho Dân Biểu Al Green và Bộ Ngoài Giao Hoa Kỳ . Thông qua nỗ lực vận động
chung của hai hiệp hội trên cũng như của Dân Biểu Green cùng báo chí, cô Huơng
cuối cùng cũng đã có thể về lại quê nhà với điều kiện rất ngặt nghèo là gia
đình cô Huơng bị buộc phải chấm dứt mọi truy tố hay tố cáo cơ quan “tuyển người”
của đảng là tổ chức bán buôn người trá hình trước công pháp, cũng như phải
chính thức xin lỗi má mì của nhà thổ này là Thúy An về việc kết án bà ta buôn
bán tình dục trên thân phận những thiếu nữ nghèo. Không những vậy, cô Danh còn
buộc phải viết một lá thư…”cám ơn” các tùy viên sứ quán Cộng sản Hà Nội tại
Moscow ”giúp đỡ” cô Huơng quay về.
Cuối cùng, cô Huơng cũng đã được chở đến sứ quán của Cộng đảng tại
Moscow- tại đây, cô được tùy viên sứ quán là Kiên giải thích về các điều kiện
liệt kê trên và cô Huơng bị buộc phải viết một lá thư khẳng định những gì cô
báo cho gia đình về má mì Thúy An là hoàn toàn bịa đặt cũng như phải viết một lá
thư “cám ơn” nhân viên toàn đại sứ cùng má mì Thúy An đã giúp cô trở về quê nhà
(?!)
Đương nhiên là tòa đại sứ Cộng Sản Hà Nội tại Moscow không những
không giúp mà còn làm ngơ trợ giúp má mì Thuy An gia hại các nạn nhân – cô
Huơng thoát được thảm cảnh hoàn toàn là do áp lực ngoại giao từ phí Hoa Kỳ cũng
như nỗ lực từ thiện của hai tổ chức phi chính phủ kể trên và sự tận tâm hổ trợ
của giới báo chi truyền thông quốc tế. Cộng Sản Hà Nội thiệt là dối trá và nhẫn
tâm!
Buôn bán lao động khổ sai:
Cộng Sản Hà Nội “xuất khẩu” hay bán con người ra nước ngoài lao động
khổ sai nhằm giảm bớt đối kháng bất mãn trong lòng xã hội, một kế sách đã được
thông chế Tito thực hiện ở Nam Tư trước đây. Tito là một tên Cộng Sản tàn bạo
ngồi ở ghế “tổng thống suốt đời” cho đến khi chết vào năm 1980.
Cộng Sản Hà Nội đẩy mạnh xuất khẩu bán buôn con người cho các thị
trường lao động khổ sai khắp nơi trên thế giới nhằm che giấu bất lực của nhà cầm
quyền trong việc tạo công ăn việc làm ngay tại đất nước và đồng thời, tạo ra một
khoản thu nhập lớn đem về cho đảng.
Năm 2007, ngân sách của đảng đã thu về được hai tỷ Mỹ kim từ sự
bán buôn uất khẩu con người cho lao động khổ sai. Việt Nam hiện có khoảng 51.4
triệu người đang ở tuổi lao động và 70% dân số là dưới 30 tuổi. Bất chấp đẩy mạnh
buôn bán con người tối đa, Cộng đảng vẫn phải lo đối phó sự bất mãn của gần 10
triệu người thất nghiệp, theo thống kê của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế IMF.
Cộng sản Hà Nội cố bán ra thế giới khoảng 500 ngàn người cho thị
trường lao động khổ sai vào năm 2005, và con số bán lao động khổ sai ra thị trường
thế giới cứ mỗi năm mỗi tăng. Vào năm 2008, Cộng Sản Hà Nội đạt được thoả hiệp
với Qatar, nâng tổng số lao động khổ sai bán qua vùng Vịnh từ 10 ngàn lên đến
100 ngàn cho đến hết năm 2010, gấp mười lần con số của những năm trước
Cấu Trúc hệ thống buôn bán con người của Cộng Sản Hà Nội:
Tất cả các công ty quốc doanh tuyển nhân công để bán ra nước ngoài
cho thị trường lao động khổ sai đều là một bộ phận trong một hệ thống buôn bán
con người rất chặt chẽ tinh vi của Cộng đảng- liên quan đến nhiều viên chức cao
cấp trong đảng, hệ thống ngân hàng.
Các nạn nhân nghèo trước hết bị lừa khi ký các hợp đồng láo gọi là
“hợp đồng nội” hay hợp đồng trong xứ, có nhiều hứa hẹn ba xạo về điều kiện việc
làm tốt đẹp. Sau đó, các nạn nhân nghèo phải mượn nợ từ các nhà băng ngân hàng
quốc doanh cũng của đảng để trả các khoản phí giấy tờ, tiền giấy máy bay, tiền
đào tạo. Nếu không đủ kinh phí, bậc phụ huynh phải bán luôn điền sản nhỏ nhoi của
mình để cho con cái có đủ kinh phí nộp đơn đi lao động khổ sai.
Sau khi đã nộp không biết bao nhiêu thứ phí không bồi hoàn cho
đúng thủ tục của “hợp đồng nội,” các nạn nhân trước ngày đi một hay hai ngày mới
bắt đầu ký hợp đồng nội khác, hoàn tòan lật lộng với những gì trong “hợp đồng nội”
ban đầu- nhưng các nạn nhân đã hết cách vì chi ra quá nhiều tiền, lún sâu trong
nợ rồi nên đành phóng lao thì phải theo lao; ký bừa đồng ý cho xong mà thôi.
Khi đến được nơi lao đông khổ sai ở xứ người, các nạn nhân lúc bấy
giờ bị lấy hết giấy tờ, buộc phải ký hợp đồng thứ nhì gọi là “hợp đồng ngoại”
mà không có nạn nhân nào có thể từ chối cũng như hiểu là mình đang ký thỏa thuận
điều gì trong bản hợp đồng ngoại này. Từ đó, cuộc đời của các nạn nhân lao vào
tăm tối – làm việc lao lực khổ sai hơn 10 tiếng mỗi ngày trong điều kiện độc hại,
với lương bổng vô cùng thấp và không có sự chăm sóc y tế. Có nhiều nạn nhân
không được trả lương trong khi vẫn phải trả nợ cho công ty môi giới tuyển người
tại Việt Nam khi mượn nợ làm thủ tục. Cuối cùng, các nạn nhân đi đến chổ suy yếu
bệnh tật, không thể có tiền để quay về xứ sở, cũng như trả nợ-và nhà cửa của
gia đình thì bị siết. Thảm cánh bần cùng thê thảm không thể tả.
Các tòa đại sứ của Cộng Sản thì trơ như đá không giúp đỡ gì cho
các nạn nhân. Cộng Sản Hà Nội cũng vờ vịt ban hành đạo luât chống buôn người, xử
án một vài vụ hời hợt cho lấy lệ để lừa qua mặt sự giám sát của Liên Hiệp Quốc
hay Hoa Kỳ hoặc qua mặt các quốc gia trợ giúp chống buôn người, cho thấy rằng đảng
ta cũng có quan tâm. Tất cả sự láo lừa đó chỉ nhằm che đậy chính sách buôn bán
con người của đảng đang ngày được đẩy mạnh, đem đến một nguồn lợi nhuận khổng lồ
cho các đảng viên, từ công khai lẫn hối lộ lén lút.
Ngoài ra, có ai biết rằng tại Việt Nam hiện nay, tố cáo tham nhũng
là phạm pháp hay không?
Michel Benge
Nguyễn Trọng Dân lược dịch
(Michel Benge từng làm việc tại Việt Nam hơn 11 năm như là một
quan sát viên nên ông rất am tường nhiều sự dối trá của nhà cầm quyền Cộng Sản
Hà Nội. Ông cũng là một người hoạt động nhân quyền rất tích cực. Lối viết của
ông hóm hĩnh nhưng vô cùng sắc bén, cứa thẳng vào chổ ung nhọt của chế độ Cộng
Sản Hà Nội.)
No comments:
Post a Comment
Nhân quyền và bạo quyền